Phát triển ngành nghề sinh vật cảnh tại xã Long Thọ

Phát triển ngành nghề sinh vật cảnh tại xã Long Thọ

 I. SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ.

Huyện Nhơn Trạch có vị trí địa lý thuận lợi nằm ngay trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần các trung tâm đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Biên Hòa. Các đô thị này cùng với huyện Nhơn Trạch đều có tốc độ phát triển cao, thu nhập và đời sống của người dân không ngừng tăng; dẫn đến nhu cầu tinh thần về thưởng thức sinh vật cảnh ngày càng được nâng lên theo sự phát triển kinh tế xã hội. Đây là yêu cầu khách quan, cần thiết trong quá trình phát triển đô thị. Trong khi đó hiện nguồn cung cấp sinh vật cảnh trên địa bàn còn chủ yếu từ các địa phương khác. Do đó đây là cơ hội tốt cho phát triển ngành sinh vật cảnh trong các năm tới, nhằm không chỉ đáp ứng cho nhu cầu đô thị mới Nhơn Trạch, mà còn cung ứng cho các đô thị lớn lân cận như đã nói trên.
Hiện nay Nhơn Trạch nói chung, xã Long Thọ nói riêng có nguồn nước dồi dào, vị trí địa lý, điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển một số loại cây, hoa, sinh vật cảnh có giá trị cao; đồng thời tại khu vực xã Long Thọ phong trào nghề sinh vật cảnh đã bước đầu phát triển và đạt được một số kết quả. Tuy nhiên nhìn chung phong trào phát triển ngành nghề sinh vật cảnh của Nhơn Trạch và xã Long Thọ vẫn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa hình thành khu vực sản xuất tập trung, chưa thật sự góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch sản xuất nông nghiệp, nông thôn sang sản xuất nông nghiệp đô thị.
UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành quyết định 3719/QĐ-UBND ngày 15/12/2009 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2008-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, trong đó dự án phát triển ngành nghề sinh vật cảnh tại xã Long Thọ là một trong 11 dự án được UBND tỉnh ưu tiên đầu tư.
II. MỤC TIÊU ĐẦU TƯ
  1. Mục tiêu chung
Hình thành các cơ sở sản xuất, kinh doanh sinh vật cảnh trên địa bàn xã Long Thọ, góp phần quan trọng trong việc hình thành khu vực sản xuất tập trung sinh vật cảnh. Từ đó định hướng phát triển trở thành làng nghề kết hợp du lịch sinh thái.
  1. Mục tiêu cụ thể:
  • Phân tích lựa chọn loại sinh vật cảnh trong dự án đầu tư
  • Xây dựng các mô hình nuôi trồng sinh vật cảnh điển hình.
  •  Xây dựng các khâu sản xuất, thu mua và tiêu thụ các sản phẩm sinh vật cảnh trong vùng dự án
  • Tiếp nhận, khảo nghiệm các loại sinh vật cảnh mới phù hợp với địa phương.
  • Sản xuất cung ứng các giống sinh vật cảnh chất lượng cao để phục vụ cho nhu cầu của tỉnh Đồng Nai và các đô thị lân cận.
  • Xây dựng các mô hình sản xuất nuôi trồng sinh vật cảnh có áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới cho từng loại sản phẩm.
  • Xây dựng qui trình kỹ thuật sản xuất cho các sản phẩm sinh vật cảnh phù hợp với các tiêu chuẩn hàng hóa chung, làm tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu sản phẩm và tạo điều kiện thương mại hóa các sản phẩm.
  •  Bảo tồn một số nguồn gen sinh vật cảnh hiếm quý.
  • Thực hiện đào tạo, tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất sinh vật  cảnh và làm điểm tham quan mô hình sản xuất cho nông dân.
  •   Phấn đấu doanh thu trên một đơn vị diện tích nuồi trồng đạt tối thiểu 50.000 đồng/m2/năm
  • Giúp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân trong khu vực dự án, góp phần ổn định kinh tế của địa phương.
III. XÁC ĐỊNH QUY MÔ SẢN XUẤT VÀ SẢN PHẨM HÀNG NĂM CỦA TỪNG LOẠI SINH VẬT CẢNH
Thực hiện theo phương án 3 đã được chọn: khu vực dự án có diện tích khoảng 45 ha, chọn 150 hộ tiêu biểu. Qua kết quả khảo sát, trong 10 nhóm sinh vật cảnh cần đầu tư thì có một số nhóm cần nhiều hộ đầu tư, có nhóm chỉ cần đầu tư vài hộ, do đó chúng tôi xác định quy mô và sản phảm hàng năm của từng loại sản phẩm như sau:
Nhóm 1: Đá cảnh – non bộ
– Vận động 05 hộ dân tham gia đầu tư, diện tích mặt bằng sản xuất trung bình 70m2/hộ
– Sản phẩm cung cấp: đá cảnh, tiểu cảnh, non bộ. Dự kiến ít nhất mỗi năm sản xuất 250 sản tác phẩm cung cấp cho thị trường với giá trị khoảng 350 triệu đồng.
Nhóm 2: Bonsai:
– Vận động 40 hộ tham gia sản xuất, diện tích sản xuất trung bình 500m2/hộ
– Sản phẩm cung cấp: các tác phẩm bon sai, cây cảnh. Dự kiến sau 03 năm đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 28.000 sản phẩm, trị giá khoảng 3 tỷ đồng

Nhóm 3: Hoa lan

Ảnh: Phát triển vườn lan trong dự án làng nghề sinh vật cảnh
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình mỗi hộ khoảng 500m2.

 

– Sản phẩm cung cấp: lan cắt cành, lan chậu các loại. Dự kiến sau 1 năm đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 50.000 cành lan và 5.000 chậu lan, trị giá khoảng 375 triệu đồng.
Nhóm 4: Nhóm cây chơi hoa (mai, hoa giấy, bằng lăng…)
– Vận động 40 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình khoảng 500m2/hộ
– Sản phẩm cung cấp: cây cảnh trong chậu các loại như mai, hoa giấy, bằng lăng, sứ, sinh sam, mai chiếu thủy, nguyệt quế, trang… Dự kiến sau 3 năm đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 30.000 sản phẩm, trị giá khoảng 3,5 tỷ đồng.
Nhóm 5: cây tạo hình
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình mỗi hộ khoảng 500m2
– Sản phẩm cung cấp: các tác phẩm hình thú được tạo hình bằng cây xanh (như nai, voi, rồng, lục bình…) phụ vụ trang trí các khuôn viên tư gia, các công viên, vỉa hè… Dự kiến sau 3 năm đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 2.000 sản phẩm, trị giá khoảng 600 triệu đồng.
Nhóm 6: Cây lá màu, hoa nền
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình mỗi hộ khoảng 500m2
– Sản phẩm cung cấp: các loại cây lá màu, hoa nền, cây làm đường viên chủ yếu phục vụ các công trình công cộng như đường, công viên. Dự kiến mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 80.000 đơn vị cây, trị giá khoảng 400 triệu đồng.
Nhóm 7: Nhóm hoa treo – cây thủy sinh
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích tối thiểu mỗi hộ khoảng từ 300m2
– Sản phẩm cung cấp: các loại hoa treo như dạ thảo, thạch thảo, mười giờ… Dự kiến sau thời gian đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 30.000 giỏ (chậu), trị giá 600  triệu đồng
Nhóm 8: Nhóm cá cảnh – thủy sinh
– Vận động 05 hộ tham gia sản xuất, diện tích tối thiểu mỗi hộ khoảng từ 200m2
– Sản phẩm cung cấp: cá cảnh, thủy sinh các loại như cá dĩa, chép, cá rồng, bảy màu,… Dự kiến sau thời gian đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 20.000 cá cảnh, thủy sinh các loại, trị giá khoảng 250 triệu đồng.
Nhóm 9: Nhóm chim – thú cảnh
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình mỗi hộ khoảng 200m2
– Sản phẩm cung cấp: chim – thú cảnh các loại: chim hót, chim chọi, chim làm cảnh, thú cảnh: chich chòe, chào mào, vành khuyên, vẹt, cu gái, sẻ, yến phụng, chó cảnh… Dự kiến sau thời gian đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 1.200 chim –thú cảnh các loại, trị giá khoảng 400 triệu đồng.
Nhóm 10 – Nhóm hỗ trợ sản xuất sinh vật cảnh: Sản xuất chậu cảnh
– Vận động 10 hộ tham gia sản xuất, diện tích trung bình mỗi hộ khoảng 75m2
– Sản phẩm cung cấp: chậu cảnh xi măng các loại. Dự kiến sau thời gian đầu tư, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 20.000 chậu cảnh các loại, trị giá khoảng 1.200 triệu đồng.
IV. TỔNG MỨC ĐẦU TƯ :
  1. Khái toán các hạng mục công trình giao thông, thủy lợi:
ĐVT: triệu đồng
STT
Hạng mục Tổng cộng Phân theo năm
thực hiện
Năm 2011
Năm 2012
1 Nâng cấp các tuyến giao thông
400
400
2 Nạo vét hệ thống thủy lợi
70
70
Tổng
470
470
 
Trên cơ sở tính toán nhu cầu đầu tư của từng loại công trình, căn cứ đơn giá hiện hành, chúng tôi dự kiến vốn đầu tư cho công trình giao thông và thủy lợi là 470 triệu đồng và được thực hiện hoàn thành trong năm 2011. Lưu ý: việc đầu tư nâng cấp các tuyến giao thông trong vùng dự án là bước đệm để thực hiện nhựa hóa được gắn kết với đề án phát triển nông thôn mới của xã điểm Long Thọ.
  1. Khái toán chi phí xây dựng các mô hình điểm:
                      ĐVT: triệu đồng
STT
Hạng mục Tổng cộng Vốn NN
hỗ trợ
Vốn tự có
của dân
1
Mô hình Lan Mokara cắt cành
86 40 46
2
Mô hình lan hồ điệp
81
30
51
3 Mô hình bonsai mini
82
30
52
4 Mô hình trồng mai ghép
84
30
54
5 Mô hình hoa treo, cây thủy sinh
84
30
54
Tổng cộng
417
160
257
Như vậy tổng kinh phí để xây dựng 5 mô hình điểm là 417 triệu đồng; trong đó chi phí của người dân tham gia mô hình là 257 triệu, chi phí nhà nước hỗ trợ cây, con  giống là 160 triệu.
IV. HIỆU QUẢ KINH TẾ
Kết quả phân tích hiệu quả tài chính của dự án được thể hiện như sau:
  •  Tỷ lệ nội hoàn (IRR) của dự án là 17,8%
  • Giá trị thu nhập thuần là: 4.067 triệu đồng
  • Thời gian hoàn vốn đầu tư: 3 năm 9 tháng
Như vậy các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đều thể hiện khả năng đứng vững và khả năng sinh lời của dự án, việc đầu tư vào dự án hoàn toàn yên tâm về khả năng thu hồi vốn của dự án. Ngoài ra ta có thể tham khảo thêm hiệu quả hiệu quả của một số mô hình sản xuất sinh vật cảnh thực tế của người dân tại xã và ở một số địa phương khác (tại phần phụ lục)
V. HIỆU QUẢ XÃ HỘI:
  • Tạo ra giá trị sản phẩm và lợi nhuận trên một ha đất canh tác thấp nhất là 50.000 đồng/m2/năm, góp phần tăng thu nhập cho người dân, gúp người dân tận dụng được diện tích đất chưa sử dụng, tận dụng được thời gian nhà rõi, khai thác hiệu quả lao động lớn tuổi; góp phần ổn định lao động nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn và giúp người dân gắn bó với đất đai.
  • Khi thực hiện dự án sẽ thu hút được 430 lao động nông nghiệp thường xuyên, góp phần ổn định cơ cấu lao động nông nghiệp ở nông thôn vốn được xem là vùng có tốc độ và chịu ảnh hưởng mạnh của công nghiệp hóa.
  • Giúp thu nhập của người dân tăng lên sẽ góp phần làm giảm tệ nạn xã hội; đặc biệt khi phát triển dự án thì phong trào chơi sinh vật cảnh trong nhân dân sẽ phát triển, thu hút và lôi kéo được các đối tượng không có nghề nghiệp, lực lượng thanh thiếu niên tham gia chơi sinh vật cảnh, tạo nên sân chơi bổ ích, lành mạnh tại địa phương.
  • Phát triển sản xuất sinh vật cảnh còn giúp khai thác hiệu quả lực lượng lao động nông nghiệp dư thừa ở nông thôn, những lao động đã lớn tuổi, lao động về hưu và những lao động có trình độ học vấn thấp… Sinh vật cảnh còn giúp tạo môi trường cảnh quan xanh, sạch, đẹp, văn minh cho thành phố Nhơn Trạch trong tương lai.
 

 

 

DỊCH VỤ LẬP DỰ ÁN