Dự án nông nghiệp hỗn hợp Kiên Giang

Dự án nông nghiệp hỗn hợp Kiên Giang

 I. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.
Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; có việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lao động, dân cư xây dựng nông thôn mới.
Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất đã hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn.
Kinh tế trang trại có lịch sử phát triền lâu đời, các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ. Ở Trung Quốc trang trại có từ đời nhà Đường. Với nước ta, trang trại hình thành và phát triển dưới thời nhà Trần với tên gọi chung là các “thái ấp”. Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời. Năm 1802 ở Pháp có 5.672.000 trang trại, năm 1882 ở Tây Đức có 5.278.000, năm 1990 ở Mỹ có 5.737.000, năm 1963 Thái Lan có 3.214.000 và Ấn Độ có hơn 44 triệu trang trại.
Quá trình phát triền công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy mô về diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên. Hiện nay ở Mỹ có 2,2 triệu trang trại, sản xuất mỗi năm 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới; ở Pháp có 0,98 triệu trang trại, sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1.500 trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo đảm lương thực, thực phẩm cho hơn 100 triệu người. Như vậy, trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển các trang trại trong thời gian qua và căn cứ vào chủ trương đối với kinh tế trang trại đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 12 năm 1997 và Nghị quyết số 06 ngày 10 tháng 11 năm 1989 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp và nông thôn, cần gíải quyết một số vấn đề về quan điểm và chính sách nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế trang trại trong thời gian tới.
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-CP của Chính phủ về việc khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, tỉnh Kiên Giang đã hình thành hơn 7.510 trang trại. Hiệu quả từ mô hình này cao hơn 1,5 lần so với kinh tế hộ. Kinh tế trang trại đã tạo ra một sản lượng hàng hóa nông thủy sản với tổng giá trị trên 547 tỉ đồng, góp phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trong và ngoài tỉnh…
Tính đến thời điểm đầu năm 2005, Kiên Giang phát triển được số trang trại chiếm hơn 10% trong tổng số trang trại của toàn quốc. Qui mô trung bình mỗi trang trại gần 5 ha. Trong đó có 5.180 trang trại trồng trọt, 2.200 trang trại nuôi trồng thủy sản, số còn lại là trang trại chăn nuôi và sản xuất kinh doanh tổng hợp. Vùng Tứ giác Long Xuyên chiếm tới trên 31% số trang trại toàn tỉnh và chiếm gần 50% trang trại nuôi trồng thủy sản. Các chủ trang trại đã đầu tư trên 600 tỉ đồng vào các mô hình sản xuất kinh doanh.
Trong vòng một năm trở lại đây, những thủ tục, qui định rườm rà gây cản trở sự phát triển của kinh tế trang trại đang được Kiên Giang khẩn trương tháo gỡ theo chủ trương tạo mọi điều kiện cho mô hình này phát triển đúng hướng. UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành phối hợp chặt chẽ với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn triển khai nhanh việc cấp giấy chứng nhận cho các trang trại. Qua đó các chính sách ưu đãi về đầu tư, tín dụng dành riêng cho mô hình kinh tế trang trại đang được thực hiện.
Điều phấn khởi là mô hình kinh tế trang trại chỉ mới hơn 4 năm đi vào thực tiễn ở Kiên Giang, nhưng ngày càng đóng vai trò là kênh giải quyết việc làm chủ lực cho lực lượng lao động tại địa phương, với mức thu nhập vào loại khá, góp phần quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Thống kê của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cho thấy, hầu như tất cả trang trại đều có nhu cầu thuê lao động nhất là lực lượng lao động phổ thông tại địa phương. Cả 7.500 trang trại đang tạo việc làm ổn định cho trên 24.800 lao động thường xuyên với mức thu nhập từ 800 ngàn đồng đến 1 triệu đồng/tháng. Ngoài ra lực lượng lao động thời vụ cũng có lúc lên trên 200.000 lượt người, mức thù lao 30.000 – 40.000 đồng/người/ngày.
Đến nay mô hình kinh tế trang trại đã thể hiện rõ vai trò trong việc gia tăng hệ số sử dụng đất, áp dụng khoa học kỹ thuật, cải tạo đất góp phần quan trọng trong việc biến những vùng đất hoang hóa, chua phèn nhiễm mặn rộng lớn như vùng Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau và vùng đệm U Minh Thượng chuyển mình thành những vùng tạo ra sản lượng hàng hóa nông thủy sản chủ lực của tỉnh. Tổng giá trị sản phẩm các trang trại làm ra năm 2003 là 450 tỉ đồng, năm 2004 tăng lên trên 547 tỉ đồng.
Sau hơn 4 năm thực hiện, hiệu quả từ mô hình kinh tế trang trại đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần. Tuy vậy, từ thực tế tại Kiên Giang cho thấy để mô hình này thật sự phát triển một cách bền vững, địa phương cần thực hiện nhanh chóng hơn nữa các cơ chế ưu đãi, nhất là về tín dụng. Công việc qui hoạch xây dựng các vùng lúa chất lượng cao, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, an ninh trật tự… phải được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, cụ thể hơn. Từ đó sẽ tạo nên sự hòa nhập và gắn kết lâu dài giữa lợi ích xã hội, người lao động và các chủ trang trại…
Một số trang trại, gia trại đã hình thành các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ và chế biến. Thực hiện tái cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng nhanh đàn gia cầm, giảm đàn lợn F1, tăng đàn lợn F2, F3 và đàn lợn ngoại, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm của ngành chăn nuôi trong tỉnh đạt 5,4%/năm.
II. Mục tiêu dự án.
1. Mục tiêu chung.
  • Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; có việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lao động, dân cư xây dựng nông thôn mới.
  • Tổ chức tiếp nhận công nghệ, thực nghiệm các biện pháp kỹ thuật phục vụ sản xuất của dự án.
  • Tổ chức sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho thị trường.
  • Các công nghệ được ứng dụng trong thực hiện dự án chủ yếu tập trung vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến so với mặt bằng công nghệ sản xuất nông nghiệp trong nước.
2. Mục tiêu cụ thể.
  • Hàng năm cung cấp khoảng 296 con bò giống và 400 con bò thịt chất lượng cao cho thị trường;
  • Hàng năm cung cấp khoảng 1.375 tấn lúa Nhật;
  • Cung cấp 330.000 kg heo hàng năm cho thị trường.
  • Cung cấp 5,4 triệu trứng gà và khoảng 300 kg yến sào chi thị trường hàng năm.
III. Quy mô đầu tư của dự án.
  • Đàn heo nái sinh sản : 1.000 con;
  • Đàn bò thịt chất lượng cao : 1.000 con;
  • Gà chuyên trứng : 10.000 con;
  • Sản xuất lúa Nhật : 100 ha;
  • Đồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò : 10 ha;
  • Nhà nuôi Yến (80 m2/nhà) : 20 nhà.
IV. Tổng mức đầu tư của dự án.
STT Nội dung ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền (1.000 đồng)
I Xây dựng        90.240.950
I.1 Hợp phần bò thịt        31.034.950
1 Chuồng nuôi bò sinh sản  m² 7.998  1.500  11.996.703
2 Chuồng nuôi bò cái 12 – 24 tháng tuổi tăng đàn  m²  503  1.500  755.060
3 Chuồng nuôi bê cái 0 – 12 tháng tuổi  m² 1.600  1.500 2.399.341
4 Chuồng nuôi bò thịt (từ bê đực sinh sản ra)  m² 3.900  1.500 5.849.846
5 Kho chứa thức ăn tinh  m²  500  3.500 1.750.000
6 Hố ủ chua  m² 1.200  1.150 1.380.000
7 Hệ thống thoát nước khu trại bò  HT 1  2.500.000 2.500.000
8 Hệ thống cấp nước khu trại bò  HT 1  600.000  600.000
9 Hệ thống cấp điện khu trại bò  HT 1  1.800.000 1.800.000
10 Hàng rào bảo vệ  md 1.080 600  648.000
11 Nhà nghỉ công nhân và trực sản xuất  m²  200  4.500  900.000
12 Giao thông nội bộ  m² 1.200 380  456.000
I.2 Hợp phần nuôi heo thịt        13.020.000
1 Chuồng nuôi heo thịt  m² 1.800  3.800 6.840.000
2 Hệ thống thoát nước  HT 1  1.200.000 1.200.000
3 Hệ thống cấp nước  HT 1  560.000  560.000
4 Hệ thống cấp điện  HT 1  350.000  350.000
5 Hàng rào bảo vệ  md  300  2.500  750.000
6 Nhà nghỉ công nhân và trực sản xuất  m²  120  4.500  540.000
7 Giao thông nội bộ  m²  400 380  152.000
8 HT xilo chứa cám  HT 1  2.500.000 2.500.000
9 Nhà khử trùng  m² 16  8.000  128.000
I.3 Các hạng mục khác        46.186.000
1 Nhà nuôi chim yến  m² 1.600  5.000 8.000.000
2 Chuồng nuôi gà  m² 3.000  3.800  11.400.000
3 Nhà điều hành chung  m²  500  6.500 3.250.000
4 Khu trồng cỏ thâm canh  ha 15  300.400 4.506.000
5 HT cấp điện Trung thế  HT 1  600.000  600.000
6 HT thoát nước khu điều hành  HT 1  80.000  80.000
7 HT cấp nước khu điều hành  HT 1  150.000  150.000
8 Vườn sản xuất lúa Nhật  ha  100  20.000 2.000.000
9 Sân đường giao thông nội đồng  m² 54.000 300  16.200.000
II Thiết bị và con giống       8.430.000
1 Máy băm thái thức ăn xanh  Cái 6  25.000  150.000
2 Nông cụ cầm tay các loại  Cái 1  30.000  30.000
3 Mua bò giống  Con  500  14.000 7.000.000
4 Mua heo giống  Con 1.000  1.100 1.100.000
5 Máy vi tính và bàn làm việc  Cái 5  30.000  150.000
III Chi phí quản lý dự án  Gxdtb/1,1*2,069*1,1 2.041.502
IV Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng       5.986.042
1 Chi phí lập dự án đầu tư  Gxdtb/1,1*0,508%*1,1  501.248
2 Chi phí thiết kế bản vẽ thi công  Gxd/1,1*2,899%*1,1 2.616.085
3 Chi phí thẩm tra thiết kế BVTC  Gxd/1,1*0,19*1,1  171.458
4 Chi phí thẩm tra dự toán công trình  Gxd/1,1*0,185%*1,1  166.946
5 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu thi công xây dựng  Gxd/1,1*0,297%*1,1  268.016
6 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu mua sắm thiết bị  Gtb/1,1*0,281%*1,1  23.688
7 Chi phí giám sát thi công xây dựng  Gxd/1,1*2,421%*1,1 2.184.733
8 Chi phí giám sát thi công lắp đặt thiết bị  Gtb/1,1*0,639%*1,1  53.868
V Chi phí khác        54.784.434
1 Thẩm tra phê duyệt, quyết toán  Gxdtb/1,1*0,183%  473.621
2 Kiểm toán  Gxdtb/1,1*0,286%*1,1  310.813
3 Chi phí sang nhượng quyền sử dụng đất  ha  180  300.000  54.000.000
  Tổng cộng       161.482.928
V. Phân tích hiệu quả kinh tế của dự án.
1. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.
Khả năng hoàn vốn giản đơn: Dự án sẽ sử dụng nguồn thu nhập sau thuế và khấu hao cơ bản của dự án để hoàn trả vốn vay.
Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 2,52 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 2,52 đồng thu nhập. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.
Thời gian hoàn vốn giản đơn (T): Theo (Bảng phụ lục tính toán) ta nhận thấy đến năm thứ 5 đã thu hồi được vốn và có dư, do đó cần xác định số tháng của năm thứ 4 để xác định được thời gian hoàn vốn chính xác.
Số tháng = Số vốn đầu tư còn phải thu hồi/thu nhập bình quân năm có dư.
Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 3 năm 5 tháng kể từ ngày hoạt động.
2. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 1,85 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 1,85 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Tp) (hệ số chiết khấu 7,12%).
Theo bảng phân tích cho thấy đến năm thứ 5 đã hoàn được vốn và có dư. Do đó ta cần xác định số tháng cần thiết của năm thứ 4.
Kết quả tính toán: Tp = 4 năm 0 tháng tính từ ngày hoạt động.
3. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).
Hệ số chiết khấu mong muốn 7,12%/năm.
Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 124.210.015.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 12 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 124.210.015.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.
4. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).
Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 14,25% > 7,12% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời.
 

DỊCH VỤ LẬP DỰ ÁN