Dự án đầu tư xưởng sản xuất nước đá viên và nước đóng chai tinh khiết

Dự án đầu tư xưởng sản xuất nước đá viên và nước đóng chai tinh khiết

 Ăn và uống là hai vấn đề chính tạo nên một chế độ dinh dưỡng. Tuy nhiên, con người có thể nhịn ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước. Do đó, nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể con người cũng như sự sống nói chung.

Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít). Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước.
Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể. Uống không đủ nước sẽ làm suy giảm chức năng thận, thận không đảm đương được nhiệm vụ của mình, kết quả là trong cơ thể tích lũy nhiều chất độc hại. Những người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật. Vì vậy, trong điều kiện bình thường, một ngày cơ thể cần khoảng 40ml nước/kg cân nặng, trung bình 2-2.5 lít nước/ngày.
Mặt khác, Ngày nay nhu cầu sử dụng nước đá tinh khiết trong ăn uống, sinh hoạt hàng ngày hoặc các hệ thống làm lạnh, dùng phổ biến nhất là các nhà hàng, cửa hàng thức ăn nhanh, siêu thị, trung tâm y tế, trường học, CLB/bars rất lớn.
Với lợi thế xưởng sản xuất nằm tạo thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng nai thuộc 1 trong những trung tâm năng động nhất của vùng Đông Nam bộ. Với lượng công nhân tại các khu công nghiệp ngày một nhiều, kéo theo việc sử dụng nước đóng chai và nước  đá tinh khiết được cho là có nhu cầu rất lớn. Đây cũng là một trong những yếu tố thuận lợi nhất để dự án hình thành phát triển và hiệu quả trong sản xuất. Chính vì vậy, từ những yếu tố trên  chúng tôi tiến hành nghiên cứu và lập dự án đầu tư “Xưởng sản xuất nước đá viên và nước đóng chai tinh khiết”.
I. Quy mô đầu tư của dự án.
Dự án đầu tư dây chuyền sản xuất đồng bộ nước đá viên và nước đóng chai tinh khiết, với quy mô công suất của hệ thống cụ thể như sau:
  • Dây chuyền sản xuất nước đá viên tinh khiết, phụ vụ cho mục đích bia với công suất là: 20 tấn/ngày. Sản xuất các loại đá có quy cách sau:
  • Đá uống bia               : ᴓ 48mm x 80mm;
  • Đá uống bia trung      : ᴓ 44mm x 60mm.
Dây chuyền sản xuất nước đá viên tinh khiết, phụ vụ cho mục đích cà phê với công suất là: 15 tấn/ngày. Sản xuất các loại đá có quy cách sau:
  • Đá café nhỏ               : ᴓ 19mm x 20mm;
  • Đá viên trung             : ᴓ 34mm x 40mm;
  • Đá café lớn                : ᴓ 30mm x 30mm;
  • Đá café trung             : ᴓ 23mm x 30mm.
Dây chuyền sản xuất nước đóng chai tinh khiết với công suất là: 1.000 lít/giờ. Sản xuất các loại chai có quy cách là 20 lít và 500ml.
II.    Nguồn vốn đầu tư của dự án.
Tổng mức đầu tư của dự án         : 5.583.041.000 đồng. Trong đó:
  • Vốn huy động (tự có) : 2.555.041.000 đồng.
  • Vốn vay                     : 3.028.000.000 đồng.
III. Các thông số tài chính của dự án.
3.1. Kế hoạch hoàn trả vốn vay.
Kết thúc năm đầu tiên phải tiến hành trả nợ gốc thời gian trả nợ trong vòng 4 năm của dự án, trung bình mỗi năm trả 860 triệu đồng. Theo phân tích khả năng trả nợ của phụ lục tính toán cho thấy, khả năng trả được nợ là rất cao. Trung bình dự án có khoảng 254% trả được nợ.
3.2. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.
Khả năng hoàn vốn giản đơn: Dự án sẽ sử dụng nguồn thu nhập sau thuế và khấu hao cơ bản của dự án để hoàn trả vốn vay.
KN hoàn vốn = (LN sau thuế + khấu hao)/Vốn đầu tư.
Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 5,0 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 5,0 đồng thu nhập. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.
Thời gian hoàn vốn giản đơn (T): Theo (Bảng phụ lục tính toán) ta nhận thấy đến năm thứ 4 đã thu hồi được vốn và có dư, do đó cần xác định số tháng của năm thứ 3 để xác định được thời gian hoàn vốn chính xác.
Số tháng = Số vốn đầu tư còn phải thu hồi/thu nhập bình quân năm có dư.
Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 2 năm 2 tháng kể từ ngày hoạt động.
3.3. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 2,9 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 2,9 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Tp) (hệ số chiết khấu 10,17%).
Theo bảng phân tích cho thấy đến năm thứ 4 đã hoàn được vốn và có dư. Do đó ta cần xác định số tháng cần thiết của năm thứ 3.
Kết quả tính toán: Tp = 2 năm 8 tháng tính từ ngày hoạt động.
3.4. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).
Hệ số chiết khấu mong muốn 10,17%/năm.
Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 9.410.835.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 10 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 9.410.835.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.
3.5. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).
Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 29,9% > 10,17% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời.
 

DỊCH VỤ LẬP DỰ ÁN