Dự án đầu tư xây dựng trại giống

Dự án đầu tư xây dựng trại giống

 Năng suất giống cây trồng, vật nuôi ở nước ta, giai đoạn 1990 – 1999, do Tổ chức FAO đánh giá thuộc loại trung bình thấp của thế giới.

Tồn tại yếu kém này, là do ngành Nông nghiệp chưa đề ra chiến lược:
  • Phát triển giống, quy mô quốc gia, quy mô cho từng vùng sinh thái,
  • Chậm hình thành hệ thống tổ chức nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh giống phù hợp với nền nông nghiệp hàng hóa.
  • Việc quản lý Nhà nước, về giống chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nhất là chính sách đầu tư cho chọn giống.
  • Đào tạo và tiếp cận công nghệ sinh học về giống …
Bên cạnh năng suất thấp, chất lượng giống cũng không cao. Dẫn đến thực tế là nông sản Việt Nam tuy đã thành hàng hóa, nhưng sức cạnh tranh trên thị trường rất yếu. Người sản xuất nông nghiệp, chủ yếu lấy công làm lãi.
Từ thực trạng thiếu giống chất lượng tốt, phục vụ các chương trình mục tiêu lớn:
  • Lúa xuất khẩu.
  • Cây công nghiệp.
  • Cây ăn quả
  • Chăn nuôi hàng hóa.
  • Trồng mới rừng …,
Theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, chương trình giống cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 -2005 (Quyết định số 225/1999/TTg ngày 10/12/1999), nhằm mục đích tạo nên cục diện mới cho việc sản xuất và cung ứng giống cây trồng. Phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Từ chương trình này, 61 tỉnh, thành phố trên cả nước: Có đến 342 dự án giống được xây dựng và phê duyệt với tổng kinh phí là 2.691 tỷ đồng. Kết quả:
  • Giai đoạn 1 (2000 – 2002) là 700 tỷ đồng. Bên cạnh đó là 45 dự án giống ở TW giai đoạn 2000 – 2005 là 800 tỷ đồng.
  • Kết quả, sau giai đoạn 1, tiềm lực khoa học công nghệ về giống được tăng cường vượt bậc, đã bình tuyển, phục tráng, giữ, nhân nguồn gen, chọn tạo được một số giống mới.
  • Giống cây trồng, vật nuôi đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong cải tạo, nâng cao chất lượng giống
  • Tạo ra hàng hóa nông sản có khả năng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
  • Đặc biệt, đối với lúa, có 7 giống đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, kháng chịu sâu bệnh và mỗi giống đều phù hợp với những đặc thù cho từng vùng sinh thái.
  • Đặc biệt, giống AS996 có chất lượng cao, được chọn là 1 trong 5 giống phục vụ “Chương trình 1 triệu ha lúa xuất khẩu” của Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Nhìn chung, chương trình giống giai đoạn 1 đã góp phần chủ động lớn trong việc cung ứng giống cho sản xuất.
Năm 2002, chương trình giống đã góp phần sản xuất 4.000 tấn giống lúa lai F1, đáp ứng 25% nhu cầu và 10.000 tấn giống lúa thương mại, phục vụ chương trình 1 triệu ha lúa xuất khẩu.
Tuy nhiên, tại hội nghị đánh giá Chương trình giống Quốc gia giai đoạn 1 (tháng 4 năm 2003). Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và PTNT Lê Huy Ngọ đã nêu rõ: Nguồn vốn cho Chương trình giống Quốc gia giai đoạn 1, còn khiêm tốn so với vai trò quan trọng của nó và còn rất dàn trải, trùng lắp.
Chính vì thế, tuy đã đạt được nhiều thành tựu ghi nhận. Nhưng những chương trình vẫn chưa tạo được xung lực cho mỗi địa phương, trong chiến lược phát triển giống cây trồng, vật nuôi … Từ đó chưa tạo được sức bật mạnh mẽ cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn cũng cho rằng: Chương trình giống quốc gia còn chưa được tuyên truyền đến nơi đến chốn. Làm sao cho Chương trình này phải trở nên sâu rộng trong từng địa phương.
Một số nông sản nước ta tuy có sức cạnh tranh cao như lúa, điều, cà phê, tiêu, dứa, ngô …, nhưng chủ yếu vẫn còn là cạnh tranh về giá, chưa phải bằng chất lượng.
Đây chính là nổi trăn trở của người nông dân, mà các nhà hoạch định chiến lược và các nhà khoa học tham gia vào Chương trình giống cần khắc phục.
Giống chất lượng tốt mới đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, nhằm tạo được sức cạnh tranh bền vững, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
I. Mục tiêu đầu tư.
1. Mục tiêu về lúa giống.
Với diện tích 19,47 ha, trong đó:
  • Diện tích thực sản xuất lúa giống nguyên chủng 18,27 ha (1,2 ha dùng cho khảo nghiệm, khu vực hóa) mỗi năm 2 vụ, sản lượng lúa nguyên chủng hàng năm 182 tấn.
  • Với sản lượng lúa nguyên chủng này, cung cấp cho khoảng 916 ha nhân giống xác nhận.
  • Từ đó cung cấp 22.964 ha lúa xuất khẩu (2 vụ).
2. Mục tiêu về đàn heo giống.
  • Với mục đích sản xuất ra những heo con giống, chất lượng cao.
  • Cung ứng cho sản xuất và nhân giống trong nhân dân
  • Bằng cách xây dựng trại heo với trang bị hiện đại, để nhập heo giống ông bà chất lượng cao, về sản xuất ra heo giống bố mẹ.
3. Mục tiêu đầu tư xây dựng và sản phẩm chính của trại cá giống Tân Hiệp.
  • Hàng năm cung cấp khoảng 900.000 con cá giống có chất lượng cao.
  • Thu nhập từ sản lượng cá thịt khoảng 32 tấn/năm.
  • Trại cá giống Tân Hiệp sẽ là nơi huấn luyện kỹ thuật chăn nuôi.
  • Chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi cá các loại, cho các địa phương trong tỉnh.
II. Phương án khai thác và sử dụng lao động.
1. Phương án khai thác dự án.
Trại giống Tân Hiệp, thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch sản xuất và nghiên cứu, khảo nghiệm hàng năm được giao.
Hoạt động theo quy chế hoạt động và định hướng sắp xếp, kế hoạch phát triển chung của Trung Tâm Giống Kiên Giang.
2. Phương án sử dụng lao động.
Trại giống Tân Hiệp – Kiên Giang, hoạt động với phương thức hạch toán phụ thuộc.
Trại có 6 biên chế:
  • 01 trưởng trại có trình độ kỹ sư nông học, đến năm 2010 phải có trình độ thạc sĩ trở lên.
  • 01 phó trại phụ trách chăn nuôi: có trình độ thạc sĩ hoặc trên thạc sĩ vào năm 2010.
  • 2 gồm cán bộ kỹ thuật + kỹ sư chăn nuôi.
  • 01 kế toán kim kế hoạch.
  • 01 thủ quỹ.
  • Còn lại là lao động trực tiếp hợp đồng theo thời vụ hoặc từng công việc cụ thể.
III. Tổng mức đầu tư của dự án.
Tổng cộng: 21.558.448.546 đồng. Trong đó:
  • Chi phí xây dựng : 13.339.433.436 đồng.
  • Chi phí thiết bị + mua giống : 2.731.190.000 đồng.
  • Chi phí khác : 3.752.201.652 đồng.
  • Chi phí dự phòng : 1.735.623.459 đồng
 

DỊCH VỤ LẬP DỰ ÁN